quảng cáo top
Quảng Cáo
quảng cáo

Bảo đảm việc làm cho người lao động ngoài 40 tuổi (Kỳ 1)

Thứ tư - 09/08/2017 04:19
     
     

    71ff7811dc847d8270bcbc5b7405a772

    Công nhân trong các ngành dệt may, linh kiện điện tử là những đối tượng dễ mất việc làm.

    Theo bản tin cập nhật thị trường lao động Việt Nam của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, năm 2016, cả nước có gần 1,2 triệu lao động thất nghiệp và con số này gia tăng theo từng năm. Bên cạnh đó, cảnh báo của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) sẽ có 86% số người lao động (NLĐ) trong ngành dệt may, da giày phải đối mặt với nguy cơ mất việc làm do tự động hóa, ba phần tư số lao động trong ngành sản xuất điện, điện tử có thể bị các rô-bốt thay thế.

    Bài 1: Nguy cơ mất việc làm của người lao động

    Có một quy định “bất thành văn” trong giới doanh nghiệp (DN) là việc không tuyển lao động hơn 35 tuổi. Hậu quả là tỷ lệ lao động từ 35 đến 40 tuổi thất nghiệp ngày càng cao, cá biệt, có những lao động nữ mới chỉ hơn 30 tuổi đã phải nghỉ việc. Thực trạng này có xu hướng ngày càng gia tăng, đặt ra nhiều thách thức không chỉ đối với NLĐ mà còn tạo áp lực cho thị trường lao động, trở thành gánh nặng về an sinh - xã hội.

    Muôn vàn lý do

    Chúng tôi gặp anh Trần Quốc Biên tại quán cà-phê nhỏ của gia đình ở thị xã Dĩ An (Bình Dương). Từng là công nhân Công ty cổ phần Bê-tông 6, phường Bình An, thị xã Dĩ An (Bình Dương) nhưng anh đã bị DN đơn phương chấm dứt hợp đồng sau 28 năm công tác. Không chỉ một mình anh mà cả đội vận chuyển gồm 31 người cũng mất việc với lý do công ty cơ cấu lại. Nếu tính tuổi nghỉ hưu, anh Biên còn tám năm nữa mới đến tuổi nghỉ. Từ khi DN chấm dứt hợp đồng, anh cũng đã thử xin đi làm ở một số nơi nhưng đều bị từ chối vì lý do tuổi cao, không phù hợp yêu cầu công việc.

    Anh Biên cho biết: Những ngày đầu, tôi rất bức xúc, chán nản do mất việc làm, lại khó khăn về tài chính. Theo đúng luật, tôi phải được nhận một tháng lương cơ bản nhân với thâm niên công tác. Thế nhưng phía công ty “thương lượng” chỉ còn nửa tháng. Khi chấm dứt hợp đồng, công ty hứa hẹn bố trí số anh em nghỉ việc sang công ty khác. Tuy nhiên, một số người thì công ty chưa tiếp nhận, số được tiếp nhận thì lại bị bố trí những công việc không phù hợp. Do đó, phần lớn anh em phải bỏ việc, ở nhà.

    Công nhân Lê Thị Tâm, sinh năm 1983, từng làm việc tại Công ty may Hà Bắc, trong KCN Đình Trám (Bắc Giang) cho biết: Cách đây bốn năm, kết thúc thời gian nghỉ thai sản là lúc mẹ chồng ở quê hấp hối, tôi gọi điện xin phép trưởng dây chuyền để nghỉ. Sau bảy ngày, lên công ty đi làm lại, chào đón tôi là quyết định chấm dứt hợp đồng với lý do nghỉ quá thời gian. Tâm hớt hải tìm tới cán bộ công đoàn cơ sở nhưng không nhận được câu trả lời thỏa đáng, được hướng dẫn lên hỏi lãnh đạo văn phòng công ty. Nhưng do đã có quyết định chấm dứt hợp đồng, cho nên Tâm đã phải nghỉ sau 10 năm làm việc.

    Tâm cho biết, khi nghỉ việc, công ty không trả cho cô bất cứ chế độ nào, như: bồi dưỡng thai sản, hỗ trợ thất nghiệp. Do không có ai tư vấn, cho nên khi cầm sổ bảo hiểm, cô đã ra bảo hiểm rút được 10 triệu đồng để làm vốn buôn bán vặt kiếm sống qua ngày, nuôi con nhỏ. Chia tay chúng tôi trong tiếng thở dài đầy tiếc nuối, Tâm bảo: Do học thức kém cho nên em phải chấp nhận về hưu non ở tuổi 30. Chục năm gò lưng bên máy may em cũng thấy mỏi lưng, mắt mờ rồi.

    Một số doanh nghiệp FDI tại Đồng Nai, Bình Dương, TP Hồ Chí Minh, đã lập danh sách, khuyến khích, đồng thời hỗ trợ tiền cho công nhân làm việc hơn 15 năm nghỉ việc trước tuổi. Thực trạng này diễn ra ở nhiều DN FDI, tập trung tại các đơn vị sử dụng lao động phổ thông. Trao đổi với chúng tôi, Chủ tịch Liên đoàn Lao động (LĐLĐ) tỉnh Bình Dương Bùi Thanh Nhân cùng một số lãnh đạo công đoàn khác cho rằng, nguyên nhân DN dùng mọi biện pháp “sa thải” NLĐ lớn tuổi nhằm tiết giảm chi phí, nâng cao chất lượng sản phẩm, vì lợi ích của mình.

    Tại DN thâm dụng lao động, không yêu cầu đào tạo nhiều như dệt may, da giày, chế biến thủy, hải sản, lắp ráp linh kiện điện tử… thường áp dụng chiến thuật “cắt giảm chi phí” hay “chi phí tối thiểu”. Mặc dù khối lượng công việc, hợp đồng sản xuất vẫn ổn định nhưng họ sẵn sàng thay thế công nhân hết hợp đồng bằng những công nhân mới. Chi phí lao động như: lương, phụ cấp, tiền thưởng, mức đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, thất nghiệp, kinh phí công đoàn theo đó cũng giảm bớt, góp phần tăng lợi nhuận, sức cạnh tranh của DN.

    Lý do các DN đưa ra khi chấm dứt hợp đồng lao động là do mức độ đáp ứng công việc của NLĐ cũ bị hạn chế, cần tuyển người mới để có năng suất lao động cao hơn. Nhiều DN đặt ra những quy định trong nội quy rất khắt khe về giờ làm việc, nghỉ ngơi, thời gian vệ sinh cá nhân, đi lại tại nơi làm việc, bảo đảm chất lượng sản phẩm, tiêu hao nguyên vật liệu, bảo đảm quy trình và yêu cầu phối hợp các nguyên công tiếp theo…

    Bằng nhiều cách khác nhau, DN đã ép buộc NLĐ lớn tuổi phải nghỉ việc, thậm chí tự viết đơn xin nghỉ việc… Nhiều chuyên gia lao động gọi đây là "sa thải mềm", tức là loại trừ lao động không gia tăng được năng suất, giảm được chi phí lương, các khoản đóng bảo hiểm. Lợi ích của DN được bảo đảm nhưng gánh nặng an sinh sẽ đẩy sang cho xã hội. Về phía đại diện bảo vệ quyền lợi của NLĐ, Tổng LĐLĐ Việt Nam khẳng định nhiều chủ sử dụng lao động đã và đang có chủ trương sa thải lao động lớn tuổi với nhiều cách thức khác nhau, cả sa thải "cứng" và sa thải "mềm".

    Chủ tịch Tổng LĐLĐ Việt Nam Bùi Văn Cường rất bức xúc khi nhận thấy tình trạng này đang ngày càng gia tăng. Ông nói: Tổng LĐLĐ Việt Nam phản đối việc DN sử dụng lao động khi còn trẻ kiểu “vắt chanh bỏ vỏ” và sa thải họ khi có tuổi. Đây là một việc làm không nhân văn, không chính đáng.

    Những con số biết nói

    Mới đây, Viện Công nhân và Công đoàn (Tổng LĐLĐ Việt Nam) tiến hành khảo sát thực trạng việc làm của NLĐ sau khi kết thúc quan hệ việc làm tại các khu chế xuất - khu công nghiệp (KCX-KCN). Những số liệu mà đội ngũ cán bộ của Viện thu thập, phân tích cho thấy, số lao động có độ tuổi về hưu trước 40 tuổi, thậm chí 33, 35 tuổi ngày càng gia tăng. Kết quả khảo sát này cũng chỉ ra rằng lao động tuổi càng cao nguy cơ thất nghiệp càng lớn. Phó Giáo sư, Tiến sĩ Vũ Quang Thọ, Viện trưởng Viện Công nhân và Công đoàn chua xót: “Đời” công nhân của những công dân thoát ly đồng ruộng đi lên thành phố tìm kiếm việc làm tại các KCX-KCN thật ngắn ngủi. Kết thúc việc làm khi mới trải qua một phần ba cuộc đời, hai phần ba cuộc đời còn lại đầy gian nan khi độ tuổi lao động sung sức đã qua, trong khi tài sản lớn nhất của họ là sức lao động đã bị vắt kiệt sau thời gian tăng ca, kíp. Đây là "bài toán hóc búa" đối với những người làm công đoàn Việt Nam.

    Trưởng phòng Quản lý và thông tin khoa học (Viện Công nhân và Công đoàn) Nguyễn Mạnh Thắng cho biết: Chúng tôi tiến hành khảo sát tại chín tỉnh, ở cả ba miền bắc, trung, nam, nơi tập trung nhiều KCX-KCN lớn trên cả nước. Khi vào các DN hỏi danh sách những lao động đã chấm dứt quan hệ lao động, không một ai cung cấp, thậm chí cả cán bộ công đoàn đơn vị đó. Khi ra chính quyền, công an khu vực cũng không thể nắm được những NLĐ từng khai báo tạm trú giờ đi đâu, về đâu. Cuối cùng, chúng tôi tìm tới những khu nhà trọ công nhân, đặc biệt là các khu chợ.

    Tại đây, ban quản lý các khu chợ đã tạo điều kiện cho chúng tôi gặp những tiểu thương từng khoác áo công nhân trong các KCX-KCN. Khảo sát được tiến hành với 500 NLĐ dưới 40 tuổi bị mất việc làm, đây chỉ là con số rất nhỏ những người mất việc làm trong thực tế. Phần lớn NLĐ bị sa thải "mềm" thường rơi vào đối tượng nam và nữ hơn 35 tuổi, có những trường hợp chỉ mới 32, 33 tuổi làm những công việc giản đơn như gia công hàng may mặc, giày dép, chế biến thủy, hải sản...

    Với bản thân NLĐ đã từng làm ở các KCX-KCN, khi mất việc, áp lực về thu nhập sẽ trở nên nặng nề. Công nhân Trần Mạnh Hân, sinh năm 1992, từng làm việc tại KCN Vân Trung (Bắc Giang) bị sa thải khi mới chỉ làm việc ở công ty được một năm bốn tháng. Hân chia sẻ: Làm công nhân, tiền lương thấp nhưng vẫn còn có tiền lo trang trải cuộc sống tối thiểu. Khi mất việc, áp lực chồng chất, từ việc con ốm đến những khoản nợ nần chưa thể trả, chi tiêu ăn uống, sinh hoạt hằng ngày. Những ngày tháng đó, hai vợ chồng tôi không dám trở về quê nhà vì xấu hổ. Hân chỉ là một trong số rất nhiều lao động ra đi từ nông thôn, khi mất việc không dám trở về quê nhà bởi áp lực đè nặng từ sự kỳ vọng của các thành viên trong gia đình, của họ hàng, làng xóm.

    Đối với số NLĐ khi trở về quê, lại làm nông nghiệp, các dịch vụ nông, công nghiệp hoặc buôn bán nhỏ, cá biệt có những trường hợp trở thành gánh nặng cho gia đình, nhất là những gia đình thuần nông, làm gia tăng số đầu người trên diện tích canh tác. Một số trở về khởi nghiệp bằng chính nghề họ đã làm tại các KCN và gặp cú sốc nhất định về lối sống, thói quen công nghiệp nhưng lâu rồi cũng quen. Số còn lại do không muốn bị kỳ thị, sau khi kết thúc quan hệ việc làm cho KCN, họ bám trụ bên ngoài hàng rào KCN trở thành vệ tinh, lao động phụ trợ cho KCN.

    (Còn nữa)

    Hơn 80% số NLĐ nữ sau khi chấm dứt quan hệ việc làm tại các KCX-KCN bán hàng rong, chợ cóc tại các KCN, đàn ông làm xe ôm, phụ giúp vợ buôn bán nhỏ. 27,6% làm nội trợ, hơn 40% làm công việc tự do, 27,2% kinh doanh tạp hóa, 13,2% bán hàng rong, hàng nước, 13,3% trở về quê làm ruộng.

    (Kết quả khảo sát của Viện Công nhân và Công đoàn)

    Bài và ảnh: ĐẶNG THANH HÀ

    Nguồn: nhandan.com.vn


    Tin khác
    TÂM HẢI PHÒNG Mời đăng quảng cáo (trang trong)
    HẢI PHÒNG TRACO
    mời quảng cáo
    Nội thất gỗ thông Hải Phòng
    pallet gỗ
    bệnh viện quốc tế green
    NAMVIETTELECOM
    Đăng tin quảng cáo
    logo dailo,vn
    logo
    Hải phòng
    Báo nhân dân
    vietnamnet
    Báo Hải Phòng
    Báo Quảng Ninh
    Báo dân Việt
    HPM Việt Nam
    Tuyển dụng
    Pháp luật xã hội
    Báo ANHP
    an ninh thủ đô
    Sông giá Resort
    Triển lãm cánh diều