quảng cáo top
Quảng Cáo
quảng cáo

Việt Nam – Lộ trình hướng tới năm 2035

Thứ tư - 14/06/2017 17:21
     
     

    e0003b068a4803d9a38e04da20142139

    Ngày 13-6, trình bày Báo cáo “Việt Nam – Lộ trình hướng tới năm 2035”, ông Bùi Quang Vinh, nguyên Bộ trưởng Kế hoạch và đầu tư cho rằng, Việt Nam đã thành công sau 30 năm đổi mới, nhưng so với yêu cầu phát triển còn một khoảng cách khá xa.

    Thành công qua các con số
    Báo cáo tại Hội nghị “Quản trị kinh tế hướng tới một Nhà nước kiến tạo” đánh giá, tăng trưởng GDP bình quân đầu người đạt mức bình quân 5,5% trong hai thập kỷ qua (1990-2015: GDP tăng 6,6%). Năm 1990, quy mô kinh tế Việt Nam đạt 6,5 tỷ USD, đến năm năm 2015 đạt 193,4 tỷ USD (gấp 31 lần năm 1990).

    Năm 1990 thu nhập bình quân đầu người đạt 100 USD, đến năm 2015 đạt 2.109 USD. Việt Nam chính thức trở thành nước có thu nhập trung bình thấp vào năm 2009. Thậm chí còn ấn tượng hơn ở chỗ thu nhập của 40% dân số nghèo nhất đã tăng 9%/năm. Tỷ lệ nghèo đói và các tiêu chí nghèo khác đã giảm mạnh.

    Tụt hậu về thu nhập và quy mô, trì trệ về năng suất
    Báo cáo chung của Bộ trưởng Kế hoạch và đầu tư cùng Ngân hàng Thế giới thực hiện đưa ra so sánh về thu nhập: Sau 15 năm, thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam tăng 1600 USD. Trong khi Thái Lan tăng 3600 USD; Malaysia tăng 6.500 USD; Hàn Quốc tăng 16.000 USD.

    Về quy mô: Sau 15 năm, tổng GDP của Việt Nam chỉ tăng 160 tỷ USD; còn Thái Lan tăng 270 tỷ USD; Malaysia tăng 200 tỷ USD; Indonesia tăng 700 tỷ USD; Hàn Quốc tăng 850 tỷ USD.

    Vì vậy trong bối cảnh sắp tới, ông Bùi Quang Vinh nêu ba yêu cầu, đòi hỏi phải đổi mới. Đó là: Việt Nam đang ở trong giai đoạn ngắn ngủi còn lại của cơ hội dân số vàng (1970-2025); Những động lực từ công cuộc đổi mới trước đây đem lại đang dần ít phát huy tác dụng; và “Việt Nam ngày càng hội nhập sâu hơn vào kinh tế thế giới, nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam là một đòi hỏi có ý nghĩa sống còn”, nguyên Bộ trưởng Kế hoạch và đầu tư nói.

    Tuy nhiên, ông Bùi Quang Vinh cũng phân tích về các cơ hội: Mặc dù có những xu thế bảo hộ mậu dịch gần đây song hội nhập kinh tế quốc tế vẫn là xu thế lớn: Hiệp định thương mại song phương, khu vực và siêu-khu vực - AEC, TPP, FTA với EU, và có khả năng là RCEP và FTAAP.

    Một Trung Quốc đang nổi lên, dự kiến sẽ có một tỷ người thuộc tầng lớp trung lưu giàu có trong vòng 10 năm, đồng thời phải đối mặt với mức tiền lương tăng nhanh sẽ làm cho hoạt động sản xuất công nghiệp cuối chuỗi giá trị chuyển sang các nước khác.

    Sáng kiến về công nghệ và kinh doanh toàn cầu, thí dụ như năng lượng mặt trời, in 3D, robot, trình tự bộ gen tiên tiến,… đặt ra cơ hội và thách thức đối với Việt Nam.

    Cơ hội còn là, tầng lớp trung lưu trong nước tại Việt Nam tăng nhanh. Hơn một nửa dân số cả nước sẽ thuộc "tầng lớp trung lưu toàn cầu" vào năm 2035. Chương trình hiện đại hóa kinh tế chưa kết thúc sẽ là cơ hội cho tiến trình cải cách tiếp theo do khu vực tư nhân dẫn dắt và tập trung vào nâng cao năng suất.

    Thực hiện khát vọng với ba trụ cột và sáu chuyển đổi
    Đến năm 2035, Việt Nam có khát vọng trở thành nước có thu nhập trên trung bình, với GDP bình quân đầu người khoảng 22.000 USD, tiến tới trở thành một xã hội thịnh vượng, sáng tạo, công bằng và dân chủ.

    Để hiện thực khát vọng này, Báo cáo “Việt Nam – Lộ trình hướng tới năm 2035” khuyến nghị, Việt Nam cần dựa trên ba trụ cột và thực hiện sáu chuyển đổi lớn.

    Trụ cột thứ nhất là Thịnh vượng kinh tế phải đi đôi với bền vững về môi trường; Trụ cột thứ hai là Công bằng và hòa nhập xã hội (hay còn gọi là bình đẳng cho mọi người). Và Trụ cột thứ ba là Nâng cao năng lực và trách nhiệm giải trình của Nhà nước.

    Việt Nam cũng cần thực hiện sáu chuyển đổi lớn, gồm: Hiện đại hóa nền kinh tế đồng thời với nâng cao năng lực cạnh tranh của khu vực kinh tế tư nhân; Phát triển năng lực đổi mới sáng tạo, lấy khu vực kinh tế tư nhân làm trung tâm; Nâng cao hiệu quả của quá trình đô thị hóa, tăng cường kết nối giữa các thành phố và vùng phụ cận; Phát triển bền vững về môi trường và tăng cường khả năng ứng phó với biến đổi khí hậu; Bảo đảm công bẳng và hòa nhập xã hội cho các nhóm yếu thế cùng với sự phát triển của xã hội trung lưu; Xây dựng một Nhà nước pháp quyền hiện đại với nền kinh tế thị trường đầy đủ, hội nhập và xã hội dân chủ phát triển ở trình độ cao.

    Trình bày báo cáo, ông Bùi Quang Vinh nhấn mạnh, trên hết cải cách thể chế và quản trị nhà nước quyết định tương lai của Việt Nam, vì cải cách, đổi mới là đòi hỏi thực tiễn khách quan và đã được thừa nhận. Tuy nhiên, cải cách, đổi mới phải toàn diện, trên phạm vi toàn xã hội. Ông Vinh cho rằng, cải cách chỉ từ phía Chính phủ là không đủ nhưng lại đóng vai trò quyết định. Chuyển từ phương thức Nhà nước là “chủ yếu” sang Nhà nước tạo môi trường ổn định, thuận lợi, và phục vụ cho sự phát triển chung của toàn xã hội và toàn nền kinh tế là một xu thế, một đòi hỏi cấp thiết trong giai đoạn tới.

    Cải cách thể chế và quản trị nhà nước nên như thế nào?
    Báo cáo chung lưu ý, tăng cường năng lực của nhà nước phải bảo đảm nguyên tắc thị trường trong các quyết định của nhà nước: Làm rõ vai trò của Nhà nước và của thị trường; tăng cường sự bảo đảm về quyền tài sản, thực thi cạnh tranh, giảm thiểu sự can thiệp trực tiếp và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với các hoạt động kinh tế.

    Cải cách phân cấp giữa trung ương và địa phương; giữa các cơ quan Chính phủ nhằm tạo ra sự chủ động, trách nhiệm và hiệu quả từng cơ quan và cả hệ thống.

    Tăng cường hành chính công bằng cách: Định hướng lại việc bảo đảm, cung cấp dịch vụ công theo hướng: chuyển từ vai trò nhà nước là người sản xuất và chủ sở hữu sang người hỗ trợ, cung cấp dịch vụ, và điều tiết; Mở rộng sự tham gia của mọi thành phần trong cung cấp dịch vụ công.

    Nâng cao năng lực về dịch vụ công theo nhu cầu phục vụ người dân và doanh nghiệp thiết lập tổ chức bộ máy theo hướng chính phủ kiến tạo. Thực hiện chế độ chức nghiệp thực tài, có kỷ luật.

    Tăng cường công tác kiểm tra và cân bằng quyền lực bằng việc xây dựng Quốc hội thành một cơ quan có tính chuyên nghiệp cao (với các đại biểu chuyên trách) và trao quyền giám sát tất cả các hoạt động của nhà nước; Tăng cường tính độc lập và tính chuyên nghiệp của bộ máy tư pháp; Tăng cường vai trò của các cơ quan giám sát chuyên ngành như Kiểm toán Nhà nước Việt Nam, Thanh tra Chính phủ, Thanh tra Bộ và Thanh tra tỉnh. Có cơ chế kiểm soát quyền lực, tránh lạm quyền trong bộ máy lập pháp, hành pháp và tư pháp.

    Bảo đảm tiếng nói của công dân trong hoạt động lập pháp và quản trị nhà nước: Mở rộng không gian hoạt động cho các tổ chức xã hội đại diện cho người dân; Tăng cường khuôn khổ pháp lý để công dân được lập hội; Thiết lập cơ chế đảm bảo tiếp cận thông tin chính xác, kịp thời của công dân và doanh nghiệp. Nâng cao trách nhiệm giải trình của Nhà nước. Bảo đảm tính độc lập và minh bạch đối với phương tiện truyền thông đại chúng.

     

    XUÂN BÁC

    Nguồn: nhandan.com.vn


    Tin khác
    TÂM HẢI PHÒNG Mời đăng quảng cáo (trang trong)
    HẢI PHÒNG TRACO
    mời quảng cáo
    Nội thất gỗ thông Hải Phòng
    pallet gỗ
    bệnh viện quốc tế green
    NAMVIETTELECOM
    Đăng tin quảng cáo
    logo dailo,vn
    logo
    Hải phòng
    Báo nhân dân
    vietnamnet
    Báo Hải Phòng
    Báo Quảng Ninh
    Báo dân Việt
    HPM Việt Nam
    Tuyển dụng
    Pháp luật xã hội
    Báo ANHP
    an ninh thủ đô
    Sông giá Resort
    Triển lãm cánh diều